Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2011

Gien sợ

Gien sợ

http://www.pagewash.com/nph-index.cgi/000010A/uggc:/=2ffrnoybtf.mrasf.pbz/h/VAHXwfhRTEaf1yGvnendwt--/cubgb/nc_20110430102757683.wct
-
(Một người Việt ở xa nước Việt bàn về nỗi sợ của người Việt mình)
Một bữa lang thang trên mạng thấy bài của một blogger với danh xưng khá mới, Nguyễn Thanh. Nói mới vì cái blog anh mới post lên khoảng chục bài và một ít tiểu phẩm. Hình như người sở hữu blog này có một công việc gì đó bên Singapore và đã định cư từ lâu ở nước này. Trên con blog đã dẫn, tôi rất chú ý đến một bài viết có cái tên là lạ, có vẻ gì đó bỡn cợt: “Gien sợ”.
Tuy cái tên là vậy nhưng bài viết lại nghiêm túc. Từ cách đặt vấn đề, trình bày đến sự phân tích và cắt nghĩa về sự sợ hãi khá là căn cơ và bài bản. Người viết dường như muốn người Việt chúng ta hãy nhìn thấu căn bệnh sợ hãi của mình và tìm ra hướng khắc phục. Theo tác giả này việc “biết sợ” không có gì là sai cả. Nhưng nếu lấy sự “dĩ hòa vi quý” là phương châm hành động của cả một dân tộc thì nó mang lại rất nhiều hậu quả tiêu cực. Vấn đề là phải giải phóng khỏi những nỗi sợ hãi vô hình mới cho được các cơ hội huy động nhiều nhất “trí tuệ dân tộc” trong sự phát triển và hiện đại hóa đất nước.
Có thể chúng ta sẽ đồng tình hoặc chưa/không đồng tình với cách đề cập và lập luận của tác giả. Hoặc cũng có thể chỉ tán thành ở điểm này mà không tán thành ở các điểm khác với Nguyễn Thanh. Tuy nhiên với sự tôn trọng ý kiến riêng của một cây bút mình dẫn, tôi xin post nguyên văn bài viết này. Sự nhận xét, đánh giá hoặc suy ngẫm thế nào đối với các vấn đề blogger này nêu lên là tùy cách nhìn và chỗ đứng của mỗi chúng ta.
NV
—————
Gien sợ
Ngày nay, với việc giải mã bộ gien, con người có thể dễ dàng phân biệt người này với người khác, dân tộc này với dân tộc khác, bởi mỗi người, mỗi dân tộc đều có những gien đặc trưng riêng của mình mà không thể nào lẫn được với người khác, dân tộc khác. Là một người Việt Nam , tôi tự hỏi, thế gien nào là đặc thù của người Việt chúng ta?
Vì không có trình độ về sinh học nên tôi không thể phân tích gien để chỉ ra đâu là gen đặc trưng của người Việt. Tôi chọn một phương pháp khác, phương pháp sử dụng thuyết tiến hóa. Ta biết rằng tiến hóa là sự đấu tranh giữa tồn tại và không tồn tại, vì vậy để đi tìm gien đặc trưng của một dân tộc thì phải tìm ra gien nào có ảnh hưởng nhiều nhất đến cơ hội tồn tại của những con người trong dân tộc đấy.
Sau khi xem xét nhiều ứng cử viên, cuối cùng tôi khá chắc chắn khi cho rằng gien đặc trưng nhất của người Việt chúng ta đấy chính là “gien sợ”. Có thể nói hiếm có một dân tộc nào mà việc biết sợ có ảnh hưởng sự sống còn như dân tộc Việt Nam .
Gien sợ có thể thấy ở đâu?
Có thể thấy “gien sợ” của chúng ta tồn tại ở khắp mọi nơi. Khi ở nhà, con cái phải biết sợ người lớn, và chỉ những đứa trẻ nào biết sợ người lớn thì được gọi là trẻ ngoan. Khi đến trường, học sinh phải biết sợ thầy cô giáo, và chỉ có những đứa trẻ biết sợ mới được gọi là trò ngoan. Lớn hơn nữa khi đi làm, nhân viên phải biết sợ cấp trên, và chỉ những người biết sợ mới là những nhân viên gương mẫu và con đường thăng quan tiến chức cũng dễ dàng hơn. Còn khi ra đường chúng ta phải biết sợ những kẻ liều mạng, những tên cướp hoặc xã hội đen, bởi chỉ có biết sợ, chúng ta mới tránh được những sự “hi sinh” không cần thiết. Hoặc đôi khi còn việc phải dính tới pháp luật hay hành chính chúng ta còn phải biết sợ những người có chức có quyền bởi chỉ có sợ và làm theo “yêu cầu” của họ thì công việc của bạn mới trôi chảy và tránh được những rắc rối không cần thiết.
“Gien sợ” này không phải mới xuất hiện trong con người Việt Nam ngày nay mà có thể nói nó đã cùng dân tộc ta đi suốt chiều dài lịch sử. Bởi lịch sử của chúng ta: “1000 năm đô hộ giặc Tàu, 100 năm đô hộ giặc Tây”, tức là lịch sử của một dân tộc nô lệ, mà đã là nô lệ thì biết sợ chính là chân lý để tồn tại. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng trong lịch sử chúng ta đã nhiều lần “anh dũng” chiến thắng ngoại xâm, và chẳng phải “người Việt Nam dũng cảm kiên cường” hay sao. Để tranh luận về vấn đề này tôi xin trích một câu của tác giả Nguyễn Lương Hải Khôi đã đăng trên Tuần Việt Nam [1]:
Nước ta suốt nghìn năm, mỗi khi Trung Quốc xâm lăng thì ngoan cường tuyên bố “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, nhưng thắng họ rồi thì lại đều đặn triều cống, các vua của ta mỗi khi lên ngôi thì luôn xin “thiên triều” phong tước, tự coi mình là nước nằm trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.
Vâng, nếu dân tộc ta thực sự dũng cảm kiên cường, tại sao đã chiến thắng rồi lại phải quay lại quỳ gối xưng thần với giặc phương Bắc, hoặc thậm chí còn cho xây cả đền thờ tướng giặc [2], kẻ đã mang quân sang giết hại đồng bào ta, ngay tại kinh thành của mình. Vấn đề này có người đã giải thích rằng bởi nhân dân ta có sự khoan dung và lòng nhân từ cao cả. Hay tôi đã nhầm, gien đặc trưng của dân tộc ta không phải là “gien sợ” mà là “gien nhân từ”. Nhưng không, rất nhiều lần tôi không thấy cái gien nhân từ đấy được thể hiện. Ví dụ như: những người theo chế độ miền Nam cũ không được sử dụng sau khi đất nước thống nhất, hoặc tìm cả nước khó gặp được cái đài tưởng niệm nào dành cho những người thuộc phía miền Nam hi sinh trong chiến tranh. Xa hơn một chút, trong cuộc cải cách ruộng đất, nhiều người đã bị đối xử tàn nhẫn (Hồ Chủ Tịch đã nhận lỗi). Thế đấy, nếu nhân từ là gien đặc trưng của người Việt thì nó không thể chỉ được dùng với những kẻ ngoại xâm, mà không có tác dụng với ngay chính những người là đồng bào ruột thịt với mình, những người cùng do mẹ Âu Cơ sinh ra. Tất cả chỉ giải thích bởi nỗi sợ, còn các lời giải thích “có cánh” khác nên kết ở một câu “lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, thế đấy vua đã quyết rồi thì tội gì không khen ngợi cho vua thì vui vẻ, mà nhân dân lại tự hào.
“Gien sợ” không chỉ tồn tại trong đời sống hàng ngày, trong lịch sử mà nó còn xuất hiện cả trong đời sống tinh thần người dân Việt. Điểm qua các câu truyện dân gian, ta thấy rất nhiều trong đó có chủ đề là châm biếm quan lại hay như ngày nay gọi là “nói xấu cán bộ”, “nói xấu chế độ”. Chuyện “Trạng Quỳnh” có thể coi là một thí dụ điển hình về thể loại này. Với Trạng Quỳnh người dân ta vui, bởi những kẻ bị nói xấu, bị chửi, bị chơi xỏ trong chuyện là những kẻ ngày đêm áp bức bóc lột họ, những kẻ mà thường ngày khi gặp họ phải dạ vâng, thậm chí quỳ gối vái lạy, những kẻ mà thường trực mang lại nỗi sợ hãi cho họ. Nhưng đáng buồn thay, đó là “ước mơ” thôi. Mà ngay cả trong ước mơ dân ta vẫn sợ, vì thế dù để thể hiện khát khao chống lại sự áp bức bóc lột nhưng nó lại không thể đưa trí tưởng tượng nhân dân vượt ra ngoài cái khuôn khổ mà chính quyền áp đặt lên họ.[3]
Tại sao “gien sợ” lại xuất hiện nhiều đến vậy?
Ngày nay, còn rất ít nơi mà việc đào tạo “gien sợ” phổ biến và tốt như ở Việt Nam . Nó trải rộng từ trong gia đình, nhà trường cho đến toàn xã hội.
Đối với người Việt Nam, thì chuyện bố mẹ mắng con cái có thể coi là chuyện bình thường, thậm chí đôi khi bố mẹ cho rằng phải đánh thì chúng mới nên người được, thế nên chúng ta mới có câu “yêu cho roi cho vọt”. Vì vậy ngay từ nhỏ, khi bắt đầu có nhận thức trẻ con đã được biết thế nào là “sợ” và tất nhiên những đứa nào chưa biết sợ sẽ được “dạy bảo” thường xuyên hơn cho đến khi biết sợ. Bởi cha mẹ nào cũng nhận thức rằng nếu không gắn được cái “gien sợ” cho con mình thì sau này chúng sẽ bị thua thiệt, sẽ hứng chịu nhiều rủi ro của cuộc sống.
Bên cạnh môi trường tiến hóa “gien sợ” ở gia đình, phần lớn trẻ con sẽ được “đạo tạo” một cách chính quy hơn ở một môi trường khác có tên là nhà trường. Ở đây loại gien này sẽ được phân loại bằng cái người ta thường gọi là điểm đạo đức. Tất nhiên những em nào biết sợ sẽ là học sinh ngoan ngoãn, còn ai không biết sợ, dám cãi lại ý kiến của thầy cô giáo sẽ nhận được hình thức kỷ luật tương xứng. Đôi khi việc phân loại “gien sợ” còn đi xa hơn một bước, đó là phân loại dựa trên gien sợ của phụ huynh học sinh: những vị phụ huynh nào không biết “sợ” giáo viên, đặc biệt là trong những dịp lễ tết, thì con của họ cũng sẽ bị xếp vào nhóm không tốt.
Chính vì chúng ta có một môi trường giáo dục hoàn hảo như thế nên khi những đứa trẻ lớn lên chúng ta có cả một xã hội toàn những công dân ngoan hiền dễ bảo, mọi người đều biết tuyệt đối tuân theo chủ trương đường lối của cấp trên. Dù vậy thi thoảng vẫn “nảy nòi” ra những kẻ không biết sợ, thế nhưng những “kẻ” này nhanh chóng bị cộng đồng xa lánh cô lập, bị cho là “dở hơi” hoặc “có vấn đề”, bởi cũng giống như câu chuyện “ở xứ mù thì người sáng mắt chính là kẻ dị tật”. Trường hợp thầy giáo Đỗ Việt Khoa “dám” chống tiêu cực là một ví dụ như thế.
Còn nếu những kẻ “không biết sợ” mà cộng đồng cũng không xa lánh, không cô lập mà đôi khi còn có phần ủng hộ, thì những kẻ đấy được coi những kẻ đặc biệt nguy hiểm. Họ phải lập tức bị cách ly, bị bắt giam, thậm chí bị tiêu diệt để cho cái “gien không sợ” của họ không có cơ hội phát tán ra bên ngoài, hoặc cảnh báo cho những người có mầm mống “không sợ” phải biết đường mà đi “chữa bệnh”. Có thể kể ra điển hình là các văn nghệ sĩ trong “Vụ án Nhân Văn – Giai Phẩm”[4], phần lớn họ được đưa đi cải tạo, treo bút và giam cầm.
Có thể nói chúng ta có một môi trường hoàn hảo để tiến hóa ra những con người biết sợ, nó hoàn hảo đến nỗi cả những kẻ chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng, trong văn học, nhưng lại mang trong mình cái gien không sợ như Chí Phèo hay Trạng Quỳnh thì kết cục cuối cùng vẫn phải là cái chết.
Những ảnh hưởng tiêu cực của “gien sợ” ?
Với một người, việc biết sợ không có gì là sai cả, mà thậm chí còn có thể nói đấy là một hành động khôn ngoan mặc dù đôi khi có thể gọi là ích kỷ. Nhưng nếu lấy “dĩ hòa vi quý” là phương châm hành động của cả một dân tộc thì nó mang lại hậu quả vô cùng to lớn.
Hậu quả đầu tiên có thể thấy là vì chúng ta đào tạo ra những con người biết sợ, luôn làm theo những gì có sẵn (cho an toàn) nên chúng ta có một dân tộc thiếu sáng tạo, dập khuôn, máy móc.
Cũng chính vì “sợ” nên chúng ta đều đặt tiêu chí an toàn cho bản thân lên trên tiêu chí sự thật, đặt sự hài lòng của cấp trên làm thước đo của sự thành công thay vì chất lượng thực sự. Điều này đã dẫn đến bệnh thành tích lan tràn, cách làm ăn gian dối, sự thật bị che đậy, một xã hội bị khủng hoảng niềm tin bởi ai cũng “nói dzậy mà không phải dzậy”.
Một hậu quả nữa dễ thấy đó là trộm cướp, xã hội đen ngày càng ngang nhiên hoạt động. Việc sử dụng vụ lực để giải quyết bất hòa ngày càng tăng. Đã nhiều lần báo chí đưa tin cảnh cướp giật hành hung giữa đường mà không ai dám can thiệp, hay là hình ảnh học sinh đánh nhau ngày càng thấy xuất hiện nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Khi mà một vài tên cướp ngang ngược giữa đường mà chẳng có ai dám can thiệp, thì tất nhiên đối với những người có chức có quyền dù họ có làm sai thì phần lớn mọi người cũng chẳng dám lên tiếng. Thế nên tình trạng tham nhũng lan tràn, hình ảnh muốn được việc phải có tiền “bôi trơn” ngày càng phổ biến. Cùng với đó là nạn lợi dụng chức quyền, vi phạm pháp luật của quan chức đã trở thành chuyện thường ngày mà chẳng ai buồn chống lại.
Nhưng nguy hại nhất chính là nó đã kéo lùi sự tiến bộ của cả một dân tộc, biến dân tộc ta thành một dân tộc lạc hậu so với thế giới. Bởi chúng ta có một xã hội không phản biện, mọi người đều không dám lên tiếng nói về chính trị bởi chỉ cần dọa “sặc mùi chính trị” là ai cũng co hết cả lại (không hiểu cái mùi đấy là mùi gì?). Chính vì không ai dám lên tiếng, không có phản biện nên chúng ta không tận dụng được “trí tuệ dân tộc” [5] trong việc phát triển, hiện đại hóa đất nước. Để cho dễ hiểu, có thể hình dung cả dân tộc như một đoàn người lạc trong rừng, để tìm được đường ra thì cách nhanh nhất là phải tận dụng được con mắt, bộ nhớ, trí tuệ của tất cả mọi người. Nhưng vì sợ hãi nên cả đoàn người chỉ biết cúi xuống nhìn mông người đằng trước để xác định hướng đi cho mình. Thành ra cả một đoàn người dài mà chỉ sử dụng mỗi con mắt, bộ não của cái người đi phía đầu hàng, nên đi lạc, đi lòng vòng có lẽ cũng là điều dễ hiểu.
Nguyễn Thanh
—————————–
Ghi chú:
[1] Bài: Trung Quốc trong mắt Nhật Bản, cách nhìn tạo ra số phận .
[2] Tướng giặc Sầm Nghi Đống.
[3] Đoạn này có sử dụng ý tưởng trong bài “Trạng Quỳnh – Trạng Lợn, hai nét tâm lý người Việt cười” của Đỗ Lai Thúy.
[4] Phong trào Nhân văn Giai phẩm.
[5] Trí tuệ dân tộc là trí tuệ cộng đồng của một dân tộc. Trong trí tuệ cộng đồng có hai đặc tính, thứ nhất là trí tuệ đcộng đồng của một nhóm người tư duy độc lập có thể vượt qua được trí tuệ của người giỏi nhất trong nhóm đó; thứ hai là nhóm càng đông người thì trí tuệ cộng đồng của nhóm đó càng cao. Do vậy có thể suy ra trí tuệ cao nhất của một dân tộc đó là trí tuệ cộng đồng của tất cả thành viên thuộc dân tộc đó.